Sunday, March 03, 2013

Bác sĩ Zivago của Việt-Nam



 
Tôi đã đọc "Bác sĩ Zivago" của Boris-Pasternack nhiều lần,bản dịch của Saigon trước 1975 , rồi cả bản dịch sau 75 do nhà xuất bản Văn Học ấn hành để cố tìm hiểu cái bi kịch của ông Bác sĩ Nga trong cuộc Nội chiến sau 1917 của Nga có đáng gọi là một tấn bi kịch mà khi đưa lên màn ảnh với diễn xuất của Omar Sharif, nó đã làm nức nở bao con tim của hàng triệu người trên thế giới này không, thì quả tình tôi hơi bị hụt hẫng so với những gì mà tôi sắp kể ra dưới đây về trường hợp của một bác sĩ, một người bạn thân của tôi mà vì những lý do tế nhị,cho phép tôi được không nêu tên thật của anh, cùng những nơi anh đã từng công tác.  Mong các bạn lượng thứ cho.
 
Nhà Ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo, lúc sinh thời, đã từng nói vui với bạn bè là:  Nếu có ai đó mà cảm thấy mình khổ quá thì hãy nghĩ đến trường hợp của Tuân Nguyễn, khi ấy người đó sẽ thấy mình còn quá hạnh phúc .  Nếu khi đó mà Cao xuân Hạo có biết trương hợp của Phan, bạn tôi, chắc anh sẽ nói khác đi vì cuộc đời của Phan, như tôi đã nói ở trên, còn bi kịch hơn những gì mà bác sĩ Zivago trong "Vĩnh biệt tình em" từng nếm trải rất nhiều.
 
Phan là một thanh niên Hà nội chính gốc, bạn chỉ cần gặp anh một lần là thấy nhận xét của tôi là chính xác.  Sở dĩ tôi phải dùng chữ Hà nội gốc để nói về anh là bởi vì, ngày nay ta thường gặp những con người có "Hộ khẩu Hà nội", làm việc ở Hà nội, nhưng chỉ cần nói chuyện dăm ba câu là đã thấy rõ anh ta là một type provincial 100%, đại khái như :  Tôi cũng là dân Hà Lội đấy chứ...
 
Phan thì không thế, cứ nhìn dáng đi đứng, cách ăn mặc, nghe anh nói hàng giờ về Marylin Monroe, Tony Curtis, Sylvana Mangano... rồi huýt sáo miệng rất điệu nghệ những bài nào có ở Milk-bar như O cangacero, Johnny is the boy for me là biết ngay anh không thể nào mới từ Thái Nguyên hay Thanh Hoá trở về.
 
Ngày ấy tôi cũng chỉ là một Sinh viên mà nói theo cách nói của đám vinh viên Hà nội thì tôi là "dân Hậu phương "mới về nhưng tôi lại có nhiều bạn cũ và mới, là dân Hà nội nên tôi có cảm tình ngay với Phan, nhất là những chiều đứng trên bực thềm, lối vào giảng đường xem anh chơi basket cùng với những Nguyễn quang Quyền, Ngô mạnh Sơn....
 
Qua Ngọc, một người bạn cũ, tôi được biết Phan là Sinh viên lớp Y4 cùng lớp với anh ruột của Ngọc là Dương văn Nhân.  Ngọc còn thì thầm vào tai tôi là "Phan vừa vào Saigon mấy tháng rồi lại trở ra học ở Hanoi".  Tôi ngạc nhiên hỏi vì sao thì Ngọc cho biết "Phan theo người yêu vào định học ở Saigon nhưng không hiểu sao lại ra,có thể là hai người đã bye bye nhau chăng."
 
Thỉnh thoảng lên nhà Ngọc nghe mâý đĩa nhạc qua cái pick-up nhà Ngọc tôi cũng gặp Phan và được biết thêm một passion nữa của anh là anh cũng thích chơi guitare classique như tôi, vì vậy chúng tôi cũng hay gặp nhau, tuy nhiên vì học khác ngành nên chúng tôi chưa mấy thân thiết với nhau.
 
Hai năm sau, ra trường tình cờ Phan lại công tác ở Phú thọ, cùng tỉnh với Liên một người bạn rất thân với tôi.  Tha hương ngộ cố tri, Phan và Liên trở nên một cặp inseparable.  Mỗi khi về Hà nội, cả hai lại cùng đến tôi để chơi đàn , rồi đi bát phố, đến Milk-bar nghe lại những bài quen thuộc.
 
Rồi ngày Phan lấy vợ, cả tôi và Liên đều là garcon d'honneur cho Phan.  Vợ Phan tuy không sắc nước hương trời như những Uyên, Loan, Oanh. . nhưng lại là một pianiste con nhà khá giả, bạn bè ai cũng nghĩ Phan là một người đã tìm được hạnh phúc, tuy chưa hẳn là tuyệt vời nhưng cũng khiến nhiều người mơ ước.
 
Đúng vậy thật, nếu chỉ căn cứ vào những năm đầu đời như thế thì lam gì tôi phải kể câu chuyện này để làm mất thì giờ của các bạn.
 
Sau ba năm công tác ở Phú thọ, với những thuận lợi ban đầu như tôi vừa kể trên, bắt đầu từ 1961, có một Bí thư đảng uỷ mới được cử về công tác tại Bệnh viện Phú thọ.  Mà ông này thì xuất thân chỉ là một y tá xã, vào Đảng từ những năm KC chống Pháp.  Với cái nhìn không mấy thiện cảm với đám trí thức gốc Hà nội, lại được đào tạo phần lớn thời gian trong vùng tạm chiếm, lại do các Giáo sư người Pháp như Dr Huyard giảng dậy.  Do đó những mâu thuẫn lặt vặt bắt đầu phát sinh.  Đại loại những chuyện như:  sao mấy ông bác sĩ này, khi chẩn đoán bệnh nhân lại còn xen vào đôi câu tiếng Pháp chẳng hạn.  Rồi chuyện chiều thứ 7 nào cũng phải về Hà nội để làm gi?
 
Chuyện bé sé ra to, một hôm,nhân phiên trực đêm của Phan, có bệnh nhân tử vong, ông kết tội Phan thiếu trách nhiệm trong công tác rồi ông súi giục gia đình bệnh nhân phát đơn kiện.  Nhân chuyện đó, không biết do nguồn tin nào mà ông biết chuyện Phan đã vào Saigon trong thời gian 300 ngày sau Hiệp định Geneve, rồi lại ra Hà nội.  Trong buổi kiểm điểm Phan, ông hỏi một câu chết người như sau:  anh đã vào Saigon ở lại đó hơn ba tháng, sao còn ra Hà nội, hay anh nhận nhiệm vụ gì của CIA?
 
Một con người như Phan không thể trả lời là mình ra Hà nội vì yêu chế độ được.  Mà có nói thế cũng chẳng ai tin.  Anh bèn đứng dậy nói:  Tôi sống ở đâu là quyền của tôi, ông không có quyền hỏi chuyện đó.  Nói đoạn,anh đứng dậy bỏ ra khỏi phòng họp, nhún vai trong lúc miệng huýt sáo"o cangacerro" như những khi ra khỏi Milk-bar vậy.
 
Hậu quả của thái độ bất cần đó là họ đưa anh đi cải tạo 3 năm mà không cần xét sử gì cả.
 
Ở trại cải tạo cùng với những sĩ quan Nguỵ thời Pháp cùng đám Tư sản chưa thực thà khai báo tài sản,đa số là dân Hàng Đào, Hàng Bạc... cũ, anh được các cán bộ quản giáo giao cho phụ trách phòng khám bệnh và phát thuốc cho các tù nhân bị bệnh.
 
Công việc này cũng chẳng mấy khó nhọc, lại gặp lại các bạn bè ngày trước, đám bạn mà ở Hà nội thường gọi là "Đi nhầm giầy" nên thời gian cải tạo cũng qua đi nhẹ nhàng.  Sau năm 1962 anh lại gặp lại ở trong trại một guitarist chơi guitare moderne rất khá.  Anh này có nickname là "Toán xồm"cũng vừa phải đi cải tạo về cái tội đã chơi những bài mà người ta gọi là "Văn hoá đồi truỵ" như Paloma,  Besame-mucho...  Thỉnh thoảng đám quản giáo lại gọi các anh lên, cho các anh mượn đàn để chơi cho họ nghe những thứ đồi truỵ đó, và được họ rất tán thưởng.  Không những thế lúc chia cơm, họ còn thưởng thêm cho các anh, khi thì củ khoai,khi thì củ sắn ....
 
Thế rồi 3 năm "cải tạo "cũng qua đi.  Ngày 2-9-1965, anh và một số "trại viên"khác được gọi lên với hy vọng sẽ được về với vợ con.  Nhưng trong số mấy chục người lên đứng xếp hàng chờ được phóng thích, chỉ có dăm ba người mà các cán bộ nói là đã thành tâm cải tạo tốt là được về.  Số còn lại, trong số đó có anh thì được giải thích là thời gian này tình hình Hà nội rất phức tạp, giặc Mỹ đánh phá ngày đêm, để các anh về lúc này không có lợi cho an ninh.  Vậy nên hãy ở lại đây ít lâu nữa, cải tạo cho tốt khi nào tình hình chiến sự cho phép, sẽ cho các anh về.
 
Cái khoảng thời gian mà mấy ông quản giáo nói là "ít lâu "nữa,các bạn có tưởng tượng được nó kéo dài đến khi nào không?  Xin thưa là mãi đến 1970 đấy.  Nếu tính trung bình ra, mỗi con người chúng ta có 60 năm sống để vừa đi học, học xong thì làm việc, để phục vụ cho xã hội thì cái con người mà tôi gọi là Bác sĩ Zivago của Việt nam kia, đã mất 1/6 thời gian đó để ở tù vì cái tội dám huýt sáo "o cangacerro" trước mặt một ông Bí thư mà trong cả đời có lẽ chưa bao giờ bước chân ra Hà Nội.  Mà nếu chuyện chỉ có thế thôi thì làm sao tôi dám đem so sánh với "Bác sĩ Zivago"của Boris-Pasternack cơ chứ.
Tất cả những gì tôi vừa kể trên mới chỉ là phần đầu của tấn bi kịch của một con người mà trong đời mình,ngoài nghề Bác sĩ ra,có lẽ anh chưa hề làm một điều gì xấu xa,chưa hề làm hại ai điều gì.
 
Trong thời gian anh ở tù thì ở ngoài đời, cô vợ Pianiste, sau khi sinh hạ cho anh một đứa con gái, đã không đủ can đảm hy sinh 10 năm xuân sắc để chờ anh về như những thiếu phụ trong bài thơ của Simonop:
 
Em ơi đợi anh về
Đợi anh về em nhé .
 
Bài thơ đó là dành cho các bà vợ có chồng đang chiến đấu ở ngoài mặt trận, nó không được viết để ca ngợi những bà vợ có chồng đang ở tù, dẫu cho đó là những người tù trí thức,những người đi tù chỉ đơn dản vì đã không chịu khuất phục trước những kẻ dốt nát hơn mình.
 
Cô vợ pianiste của anh đã đi bước nữa, để lại con gái anh cho ông bà ngoại nuôi.  Cũng cần nói thêm là trường hợp ra tù bị vợ bỏ như anh không phải là duy nhất. Người bạn tù cùng trại với anh là Vũ duy Đống cũng bị vợ bỏ để lấy chính người em ruột của anh, người mà các con anh phải gọi bằng chú ruột.  Anh này có lẽ chỉ còn hạnh phúc hơn anh ở chỗ hai đừa con gái ruột của anh vẫn còn gọi anh là bố ruột.
 
Còn anh thì sao?
Ngày anh về,con gái anh đã là học sinh lớp 6 ở trường Vân-Hồ.  Do một tình cờ của số phận, bà vợ tôi lại là cô giáo chủ nhiệm của lớp đó.  Biết được nỗi lòng của người cha muốn được gặp mặt đứa con ra đời lúc mình còn ở tù, bà đã bố trí cho Phan được gặp con gái mình ở ngay nhà tôi, nhưng con bé lại như không muốn nhận cha đẻ của mình.  Nó nghe mẹ nó nói cha mình đã chết từ lúc nó mới sinh!!!
 
Nỗi bất hạnh của anh không chỉ đơn thuần như vậy.
Tuy anh đã được trở về nhưng tấm bằng Bác sĩ của anh, người ta đã không còn công nhận nữa.  Ai dám cho anh hành nghề thầy thuốc bây giờ nữa.  Để kiếm sống, anh đành phải sử dụng đến một nghề tay trái của mình:  đó là nghề hoạ sĩ.  Anh nhận những chiếc mành mành nhỏ, người ta làm để trang trí, mang về anh vẽ lên trên đó những hình trang trí:  những cây trúc, cây mai, những con chim, con cò....  Cứ miệt mài làm như thế cả ngày, anh cũng đủ để lo cho mình ngày hai bữa cơm đạm bạc.
 
Nhưng anh không thể sống "độc thân "mãi như thế được.
Một mối tình thứ hai đã đến với anh ở tuổi ngoài 40.  Tuy muộn màng với cả hai, nhưng dù sao nó cũng giúp cho cả hai người có được những đêm đông bớt giá lạnh, làm cho họ thấy trên cuộc đời này không chỉ có hận thù và cay đắng.  Kết quả của mối tình thứ hai này là một bé gái ra đời năm 1972 dưới cái tên là Phan-Thanh Nhàn.  Cái tên này có lẽ muốn nói lên cái ước muốn sau cùng của đôi vợ chồng "rổ rá cạp lại" này.  Họ mơ ước sẽ có được những ngày cuối đời sống trong sự thanh thản, không phải lo nghĩ gì đến "cơm áo,gạo tiền".
 
Nhưng nỗi mơ ước đó mãi mãi vẫn chỉ là ước mơ.  Khi con Nhàn lên 3 tuổi thì cũng là lúc Phượng, tên người vợ thứ 2 của Phan, bắt đầu có những triệu chứng của căn bệnh mà Phan nói với các bạn thân là một pneumonie aigue .  Phượng bị ho ra máu và sụt cân nhanh chóng.  Lại một lần nữa, số phận lại đùa dai với Phan vì bệnh này phải có nhiều tiền mới mong điều trị khỏi, nếu không sẽ biến chứng thành ung thư phổi.  Và đến lúc đó thì, như lời Phan nói, Dieu seul le sait, a moins qu'un miracle soit arrive'.
 
Nhưng phép mầu đã không đến với Phan.  Gần một năm sau, Phượng qua đời để Phan lại trở thành gà trống nuôi con khi con Nhàn chưa đến tuổi vào lớp 1.  Bạn bè Phan lúc này có gặp anh ở đâu đó cũng chỉ còn nắm chặt lấy tay anh mà không biết nói gì hơn.  Mà còn biết nói gì hơn, khi mà bất cứ lời chia buồn nào cũng trở nên trơ trẽn trước số phận trớ trêu của anh.
 
Đất nước Thống nhất, tôi vào Nam công tác.  Chia tay nhau ở ga Hàng cỏ, Phan ôm choàng lấy tôi nói:  toi đi là hợp tình, hợp cảnh rồi, riêng moi, từ nay lại thêm một nỗi buồn nữa ngoài nỗi buồn mồ côi vợ, đó là mồ côi bạn.T  ôi nói:  toi ở lại còn có Liên, có Thông, có Hoài..  Lo gì buồn.  Phan nói:  vẫn biết thế nhưng toi đi thì những lúc nghe nhạc, moi sẽ buồn nhất, biết nói với ai về tiếng đàn tuyệt diệu của Se'govia, về tiếng hát khàn khàn của Mary-Ford qua tiếng guitar của Les-Paul...  Liên nó sống quá philo, Thông thì công chức quá còn Hoài thì chỉ có cái món kia thôi.  Bá Nha mà không còn Tử Kỳ ở cạnh nữa thì còn chơi đàn làm gì nữa.
 
Tuy cách xa nhau gần 2000 Km nhưng tôi và Phan vẫn quan hệ với nhau qua thư từ đều đặn.  Năm 1977, tôi nhận được một lá thư khá dầy của Phan, trong đó ngoài những chuyện đổi thay của Hà nội,chuyện bạn bè... còn có một chuyện khá vui:  đó là chuyện Phan mới lấy vợ lần thứ 3.  Người vợ thứ 3 này của Phan là con gái một ông bạn già của Phan, cô này kém Phan hơn 20 tuổi, có tên là Thắm.  Đầu đuôi câu chuyện như sau:  ông bố Thắm, người làng Trung-Kính, vốn là người vẫn cung cấp những chiếc mành mành cho Phan để anh trang trí lên đó những hoạ tiết cây cỏ, chim cá... rồi giao cho các quầy hàng trên chợ Đồng xuân bán.
 
Thông thường thì Phan đạp xe vào tận làng để lấy hàng,nhưng cũng có khi thì cô Thắm được bố sai mang hàng ra tận Hà nội để giao cho "chú Phan".  Rồi một hôm, khi Phan vào lấy hàng thì được bố Thắm mời ở lại dùng bữa cơm thân mật với gia đình.  Cơm nước xong, khi trên bàn nước chỉ còn lại 2 người đàn ông, ông cầm tay Phan nói:  Này anh Phan, tôi với anh quan hệ làm ăn với nhau đã khá lâu.  Gia cảnh anh tôi rất rõ, cảnh gà trống nuôi con cũng cực lắm, dù muốn dù không cũng phải có bàn tay người đàn bà thì mới ổn,anh ạ.  Nói gần, nói xa, chẳng qua nói thật, tôi thấy con Thắm nhà tôi nó cũng quý anh, thôi thì tôi cho nó về làm bạn với anh đấy.  Anh cứ về suy nghĩ đi, nếu anh thuận thì ta chỉ làm vài mâm cơm mời họ hàng, vài người bạn thật thân, và cũng là để xin phép tổ tiên cho con Thắm nó về làm dâu nhà anh.  Rồi sau đó nó sẽ về trên đó trông nom công việc nhà cửa, đi giao hàng cho anh.
 
Sau buổi nói chuyện đó khoảng một tháng, ông bạn Liên của tôi, cùng với Thông, Hoài ... lại về làng Trung Kính "đón dâu" cùng với Phan và ông Độ là anh cả của Phan,t rong một đám cưới không có pháo nổ, không co' xe hơi đón dâu nhưng mọi người đều mừng cho hạnh phúc mới của Phan, con người cưới vợ lần thứ ba, khi đã ở tuổi tri thiên mệnh.
 
Trong 60 năm cuộc đời của Phan, ngoại trừ 25 năm đầu tiên, khi còn trẻ, đi học rồi thành Bác sĩ, quãng đời này trôi qua một cách yên ổn nhát, không có gì đáng nói.  Mười lăm năm tiếp theo ra trường, lên Phú thọ công tác, rồi vào tù, ra tội, chạy vạy lo kiếm sống.  Đây là khoảng thời gian đầy sóng gió trong đời anh, hai lần cưới vợ thì một lần vợ bỏ, một lần chôn vợ.  Cũng khó lòng có thể tìm được một ai đó, ngoài anh, lại có thể có được một quãng đời trung niên kém may mắn hơn anh.  Vì vậy nên khi đọc "Bác sĩ Zivago" của Boris-Pasternack tôi chỉ thấy có thể về tình yêu thì Zivago, ông Bác sĩ Nga này có những nỗi niềm truân chiên hơn Phan: yêu Tonia, lấy nàng làm vợ, rồi ra trận, gặp Lara yêu nhau và chung sống với nhau trong một khung trời đầy máu lửa, chết tróc...  Thế nhưng về số phận con người thì cuộc đời Phan bi kịch hơn nhiều, như những gì chúng ta đã thấy ở hai lần lấy vợ đầu.
 
Thế còn mười năm cuối đời anh thì sao nhỉ?
Cuộc đời anh, từ khi có bóng dáng của Thắm lướt vào, có thể nói là những trang rực rỡ nhất của cuốn tiểu thuyết đời anh, nếu như có ai đó định viết nó.  Căn hộ bé nhỏ, chưa đầy 20 m2, mang số 259 phố Bà Triệu của anh, từ khi có Thắm về như sáng sủa, rực rỡ hẳn lên, mặc dầu anh vẫn phải bò ra giữa đống bột mầu, mành mành để vẽ lên đó những hoạ tiết giống nhau, nhàm chán để có tiền duy trì một cuộc sống quá ư khiêm tốn cho 3 người.  Có bàn tay người đàn bà, quả nhiên phép mầu đã đến với anh.  Thắm là một cô gái chân quê, hay lam hay làm, lại giỏi buôn bán nên nội thất nhà anh dần thay đổi.  Ngoài việc làm công việc nội trợ gia đình, Thắm còn tham gia việc buôn hàng Bắc Nam nhờ vào những chuyến xe lửa Thống nhất nối liền hai thành phố lớn nhất nước này.  Cách làm ăn này rất thịnh hành trong thời gian này.  Nhờ vậy mà nhà Phan đã có TV mầu, rồi cả đầu Video để xem phim Hàn quốc, tuy mọi thứ đó vẫn còn là second hand .  Vợ chồng Phan đã có thể di chuyển trên những chiếc xe máy mà khi đó ta thường gọi là xe bãi rác.  Nhưng có hề gì, cũ người mới ta mà, ngay bây giờ< 2008> cũng có phải ai cũng có những con xe SH,Attila... mà lướt gió đâu.  Những lần vợ Phan đánh hàng vào Saigon cô thường tá túc tại mấy căn nhà trọ rẻ tiền, cạnh ga Hoà Hưng, khi tôi đến thăm, thường lại có quà Hà nội mang về.  Về phía tôi, tôi cũng hay lùng những đĩa nhạc độc của Saigon để gửi ra cho Phan.  Cô Thắm cũng đã sinh hạ cho Phan một bé trai mà hai vợ chồng thống nhất đặt tên là Phan-Chung.  Chữ Chung, theo giải thích của Phan, có nghĩa là chấm hết, có nghĩa là anh chị sẽ không đẻ thêm đứa nào nữa, có nếp, có tẻ rồi còn gì.
 
Nhưng, Vâng lại nhưng.  Cứ mỗi lần mà tôi phải hạ bút viết chữ nhưng cay nghiệt này là tôi lại mang một mặc cảm có lỗi với các bạn, bởi vì nó sẽ là sự bắt đầu cho một chuyện chẳng lấy gì làm vui.  Nhưng từ ngày mà nền Kinh tế của chúng ta trở thành Kinh tế thị trường thì cho dù nó có thêm cái đuôi "có định hướng XHCN" nữa thì nó cũng là nguyên nhân làm nẩy sinh nhiều vấn đề phức tạp, làm đổi thay mọi quan hệ vốn một thời đã được coi như tốt đẹp.  Nhiều gia đình đưa nhau ra toà chỉ vì tranh nhau một cái lối đi rộng có hơn 1m.  Có gia đình mà giữa anh em ruột, thậm chí giữa cha và con, cũng không muốn nhìn mặt nhau chỉ vì tranh chấp nhau một mảnh sân vài chục m2.
 
Gia đình Phan cũng không thể nằm ngoài cơn gió lốc đó.  Căn hộ Phan đang ở tuy chẳng mấy rộng rãi, nhưng oái oăm thay, nó lại nằm ngay mặt tiền của một con đường bề thế của Thủ đô:  đường Bà Triệu.  Như người ta vẫn nói: có mặt tiền là có tiền mặt, vì vậy mà có chuyện sau đây:  Căn nhà Phan đang ở vốn mang tên của người anh cả của Phan lắm .  Khi cụ còn sống cụ vẫn ở với Phan, dĩ nhiên khi cụ ra đi, căn hộ đó, về tình mà nói, nó là của Phan. Nhưng trên giấy tờ, mà bây giờ người ta gọi là sổ đỏ, thì căn nhà thuộc quyền sở hữu của ông Độ.
 
Năm 1992, do gợi ý của vợ và mấy đứa con gái, ông Độ đề nghị Phan nhường lại cho nhà ông 1/3 cái diện tích mặt tiền để bà Độ mở một cái kiosque nho nhỏ bán sách cũ, Phan đành nhượng bộ nghe theo ông vì dù sao nhà này cũng là của ông, ông cho mình ở thế này cũng là tốt lắm rồi.
 
Thực ra thì cái cửa hàng sách cũ của bà chị dâu cũng chẳng sinh lợi được là bao, nhưng đó chỉ là bước đầu của một cái kế hoạch khác, lớn hơn.  Năm sau, ông Độ, lấy lý do mình bây giờ đã có tuổi, muốn về một nơi nào yên tĩnh để về ở dinh dưỡng tuổi già.  Ông bèn triệu tập hội nghị gia đình, có sự tham dự của Phan .  Ông nói đã tìm được một căn nhà nhỏ hơn ở ngoại ô, giá cả chấp nhận được, ông sẽ bán căn nhà đang ở đi để về đấy ở cho yên tĩnh.  Ông sẽ đền bù cho Phan một số tiền để Phan mua một căn nhà khác làm chỗ ở cho gia đình Phan.  Số tiền ông đề nghị đương nhiên là không đủ để tái định cư cho gia đình Phan.  Nhưng Phan cũng đành chấp nhận vì 2 lý do:
-1.Phan không muốn vì đồng tiền mà tình anh em bị sứt mẻ, tính Phan là như vậy.
-2.Căn nhà đang ở dù sao cũng là của ông Độ, do ông đứng quyền sở hữu.  Mình làm to chuyện cũng chẳng được gì,chỉ tổ người ngoài chê cười.
 
Nghĩ vậy nên Phan chấp nhận giải pháp do ông Độ nêu lên.  Buổi họp gia đình đã kết thúc trong sự hài lòng của mọi người, mà người vui nhất là bà Độ.
 
Chiều hôm sau, Thắm từ Saigon mang hàng về.  Nghe Phan thuật lại diễn biến buổi họp hôm trước, cô lạnh người khi nghĩ đến ngày phải rời căn nhà này, nơi vợ chồng cô đã có được gần 10 năm sống yên ổn, công việc làm ăn của cô lại đang tiến triển tốt đẹp.  Lần đầu tiên cô đay nghiến Phan:  Rồi anh tính cầm 20 cây vàng của ông Độ để ra vỉa hè mà ở à? Muốn có một căn nhà cấp 4 ở ngoại ô để ở bây giờ, ít nhất phải gấp đôi số vàng đó.  Nếu anh không nói lại với ông ấy thì để tôi nói.  Phan phải dùng hết lời can dán, Thắm mới để anh yên, nhưng anh hứa sẽ đàm phán lại với ông Độ để xem có hơn được chút nào không.
 
Sáng hôm sau, nhân lúc ông Độ ngồi một mình anh đem chuyện giá cả nhà đang có chiều hướng lên cao ra nói và đề nghị ông thêm cho vợ chồng anh chút ít để anh có thể có được một căn nhà nho nhỏ để ở.  Ông Độ hỏi lại:  chú nói chút ít là bao nhiêu?  Nhà em nói phải có 40 cây mới đủ,  Phan đáp.  Nghe đến đây,  ông Độ trợn mắt lên mà nói:  tôi tưởng chú thím muốn thêm độ vài ba cây thì tôi có thể tự mình quyết định được chứ nhiều thế thì phải chờ nhà tôi về đã.  Xưa nay những chuyện tiền nong nhiều như vậy, tôi vẫn để bà ấy giải quyết cả.  Câu chuyện đến đây là Phan đã quá mệt mỏi lắm rồi.  Từ lâu anh đã bị chứng nhồi máu cơ tim nhẹ, những khi đi trên đường,quá mệt mỏi là anh đều phải ngồi xuống vệ đường, tựa lưng vào một gốc cây, lấy tay xoa nhẹ lên ngực cho đỡ đau, một lúc sau mới tiếp tục đi được.  Từ hôm có buổi họp gia đình về chuyện nhà cửa, anh đã quá mệt mỏi lắm rồi, ngực anh bắt đầu lâm râm đau, nhưng anh vẫn gắng gượng để chờ vợ về xem sao.  Nay thấy ông Độ nói vậy, anh bèn đứng dậy, xin phép ông về nói lại với Thắm xem ý cô ra sao.
 
Thấy Phan về,nét mặt ỉu xìu, Thắm đã sồn sồn hỏi:  sao, ý ông Độ ra sao?  Phan lắc đầu nói:  vài cây nữa thì được, hơn nữa thì khó đấy.  Nghe tới đó, Thắm gầm lên:  Anh để đấy cho tôi, tôi sẽ gặp trực tiếp gặp bà Độ nói cho ra nhẽ, nhà mình đang ở, có hộ khẩu đàng hoàng, ai dám đuổi đi.  Phan ôm ngực can Thắm:  bây giờ không như ngày trước đâu, hộ khẩu chẳng là kí lô gì sất.  Nhà tên người ta, người ta muốn bán lúc nào chả được, cô làm to chuyện có khi lại trắng tay mà ra vỉa hè ở đấy.  Thắm càng gào to:  ra vỉa hè à, tôi thách đứa nào dám quẳng đồ của tôi ra vỉa hè đấy.  Lúc này, bà Độ cũng vừa đi chợ về, nghe Thắm nói thế, bà cũng gào lên:  Mày không cần phải thách, để tao quẳng cái TV của mày ra đường xem mày làm gì được tao nào.  Nói là làm, bà Độ sắn tay áo lên và lớn tiếng gọi con gái:  con Thuý, con Vân đâu, chúng mày quẳng cái TV này ra đường cho tao, xem nó làm gì nào.
 
Thế rồi hai người đàn bà xông vào cắn xé nhau, hàng xóm xúm đen, xúm đỏ vào xem, chẳng ai còn để ý đến Phan, lúc này đang ôm ngực rên rỉ.  Khi ông Độ từ trong nhà chạy ra thì Phan đã ngã ra sàn nhà và ngất đi.  Ông bèn quát to:  con Thuý đâu, đi gọi xe cấp cứu mau, chú Phan nguy rồi.
 
Hồi đó, các nhà tư đâu đã co điện thoại như bây giờ nên phải mất đến nửa giờ sau, Thuý mới gọi được xe cấp cứu đến, lúc này Phan đã rơi vào tình trạng hôn mê sâu và khi người ta đưa anh vào phòng cấp cứu Bệnh viện Bạch mai thì mấy ông Bác sĩ trực ở đó, có cả người từng là bạn cùng khoá với anh ngày trước nói:  đây là một ca nhồi máu cơ tim cấp, vỡ động mạch, máu trào cả vào tim, phổi.  Rất đáng tiếc là chúng tôi không thể làm gì cho gia đình được.  Xin thành thực chia buồn.
 
Thực ra thì tất cả đoạn kết của câu chuyện buồn này, tôi chỉ được nghe Liên kể lại.  Bản thân tôi, thời gian đó, cũng đang bận bịu với một công việc mới nhận ở Saigon sau khi về hưu, tôi không biết tin anh mất vì chẳng có báo nào bây giờ còn đăng những cáo phó về cái chết của những phó thường dân như Phan.  Muốn được Báo Nhân Dân đăng cáo phó, theo Phạm văn Nhân, một người bạn thân khác của Phan, đã từng làm chính uỷ trong quân đội nói thì phải có 60 năm tuổi Đảng.  Nhưng, hỡi ôi, Phan lại chỉ có 60 năm đầy sóng gió trên cõi đời này,v ới bao nỗi bất hạnh chồng chất.
 
Đi sau linh cữu Phan, đưa anh ra cánh đồng làng Trung Kính, chỉ lèo tèo dăm ba người bạn chí cốt với anh.  Ngoài Liên, Thông Nhai , còn có những bạn cùng ở tù với anh như Duy Đống, Vĩnh sẹo, Lê Trình.  Phía gia đình, ngoài Thắm đội mũ mấn với thằng Chung chống gậy đi bên con Nhàn còn có ông Độ, chỉ có mình ông và một cô con gái là Thuý đi đưa.
 
Lúc hạ huyệt, nghe Liên kể lại thì mọi người đều thấy ông Độ nói trong tiếng nấc nghẹn:  chú Phan ơi, tôi cũng có một phần lỗi lầm trong cái chết của chú.  Xin chú hãy xá tội cho tôi.  Tôi sẽ thay chú lo lắng cho thằng Chung thành người.  Vĩnh biệt chú.
 
Mười năm sau, năm 2003 tôi lại có dịp ra thăm Hà Nội. Liên cho hay, năm năm sau ngày mất của Phan, cô Thắm vợ Phan cũng đã theo anh ra đi, mộ Thắm nằm cạnh mộ Phan ngay giữa cánh đồng làng Trung kính.
 
Liên và tôi cùng rủ nhau về Trung Kính thăm mộ vợ chồng Phan.  Tới nơi cả hai chúng tôi, nhất là tôi đều ngỡ ngàng trước những đổi thay nơi đây.  Làng Trung Kính giờ đã đô thị hoá, những căn nhà lá ngày xưa đã nhường chỗ cho những căn hộ cao cấp.  Cánh đồng làng xưa không còn nữa, Khi chúng tôi hỏi về những ngôi mộ ngày trước thì mọi người cho biết chúng đã được di dời đến một nơi khác.  Khi được hỏi về nơi đó hiện ở đâu thì một anh thanh niên, tuổi còn khá trẻ dừng xe Dream lại mà trả lời:  Thời buổi bây giờ, ai hơi đâu mà đi nhớ những chuyện dớ dẩn như thế.  Hai ông có hỏi nhà người sống, may ra còn có người biết, chứ mồ mả người chết thì ai nhớ làm cái gì !


Saigon,15 năm sau ngày mất của Phan.

Thầy giáo làng

Vĩ Thanh.

No comments: